Tạp chí âm nhạc - Roxette & Marie Fredriksson - Sự bất tử của tư duy pop bảo thủ

10:04
 
Chia sẻ
 

Manage episode 291263089 series 130292
Thông tin tác giả France Médias Monde and RFI Tiếng Việt được phát hiện bởi Player FM và cộng đồng của chúng tôi - bản quyền thuộc sở hữu của nhà sản xuất (publisher), không thuộc về Player FM, và audio được phát trực tiếp từ máy chủ của họ. Bạn chỉ cần nhấn nút Theo dõi (Subscribe) để nhận thông tin cập nhật từ Player FM, hoặc dán URL feed vào các ứng dụng podcast khác.
Nàng Marie Fredriksson của ban nhạc Roxette đã vĩnh viễn chia tay khán giả cuối năm 2019. Ký ức người hâm mộ không thể quên giọng hát và phong cách cá tính của Marie. Bộ đôi Marie Fredriksson cùng với Per Gessle đã xây dựng nên tượng đài âm nhạc Roxette, niềm tự hào của đất nước Thụy Điển. Họ chứng minh rằng tư duy pop bảo thủ không bao giờ lỗi thời. Đôi nét về Roxette Hai thành viên trụ cột của Roxette là Per Gessle và Marie Fredriksson đều là người Thụy Điển. Cả hai đều hát chính và đồng tác giả những bản hit toàn cầu của nhóm như Listen to your heart, The Look, Joyride. Họ nổi tiếng khắp Thụy Điển và châu Âu suốt 20 năm từ 1986 đến 2006. Xét về độ nổi tiếng và phủ sóng, có lẽ Roxette chỉ thua kém ban nhạc huyền thoại ABBA. Thời kỳ vàng son nhất của nhóm từ 1989 đến năm 1992, hai album Look Sharp và Joyride lên hạng bạch kim trên xứ sở cờ hoa. Sự nổi tiếng của nhóm lan xa và rộng hơn trên toàn cầu. Họ trình làng tổng cộng 10 album phòng thu, 7 album trong đó đạt hạng bạch kim trên toàn cầu. Các video clip âm nhạc của Roxette thu hút hơn hơn một tỷ lượt xem trên kênh Youtube. Marie Fredriksson sinh năm 1958 trong một gia đình nghèo túng ở Skane County, miền nam Thụy Điển. Do đam mê ca hát, bà thường đánh thức cha mẹ dậy khi đứng hát opera trước gương mỗi buổi sáng. Per Gessle kém Marie 1 tuổi, anh có thể chơi được nhiều nhạc cụ như guitar, harmonica và keyboard. Marie và Per luôn bị lầm tưởng là một cặp tình nhân, thực tế, họ là những người bạn thân thiết trong âm nhạc. Fredriksson kết hôn với nhà sản xuất âm nhạc Mikael Bolyos khi đi lưu diễn tại Úc vào năm 1990. Chuyện tình sét đánh xảy ra đúng 48 giờ trước khi họ quyết định trao nhẫn cưới. Cuộc hôn nhân kết trái ngọt với hai người con Josefin và Oscar, cũng bền chặt tới khi bà qua đời. Trước khi gia nhập nhóm, Gessle từng sáng lập nhóm nhạc khác Gyllene Tider với nhiều album lên hạng 1 tại Thụy Điển. Hai thành viên Gessle và Marie gặp nhau do sinh sống cùng thành phố Halmstad, ven biển Thụy Điển. Fredriksson từng hát phụ họa cho nhóm Gyllene Tider khi ban nhạc đi lưu diễn. Ý tưởng 1 bản nhạc Never Ending Love, Gessle đã thuyết phục Marie ghi âm chung ca khúc cho hãng đĩa EMI. Ngay lập tức, bài hát thành công rực rỡ tại đất nước Thụy Điển. Từ điểm khởi đầu này, họ ra mắt nhóm Roxette với LP Pearls of Passion được chào đón nhiệt liệt tại quê nhà nhưng chưa vươn tới toàn cầu. Thành công bất ngờ trên đất Mỹ Các nhà phê bình Thụy Điển luôn ngờ vực thành công của nhóm trên đất Mỹ. Fredriksson thổ lộ rằng “Họ hoàn toàn sai lầm, chúng tôi đã làm được điều đó”. Cơ duyên đưa Roxette đến với khán giả nước Mỹ rất tình cờ. Du học sinh người Mỹ, Dean Cushman đã mang về quê nhà một món quà đặc biệt sau chuyến trao đổi học tập tại Thụy Điển. Đó là CD album Look Sharp của nhóm Roxette. Album được phát lần đầu trên radio địa phương của bang Minneapolis. Kênh radio cực kỳ ấn tượng với âm nhạc Roxette, đặc biệt ca khúc The look. Nó trở thành ca khúc ăn khách trên kênh radio này trước khi tiến thẳng lên hạng 1 bảng xếp hạng Billboard. Hiệu ứng lan truyền xảy ra với cả hãng đĩa EMI. Họ đảo ngược quyết định trước đó, phát hành album nhạc Roxette trên đất Mỹ. Giới phê bình âm nhạc Mỹ không quá thân thiện vì thị trường cạnh tranh khốc liệt. Gessle đã nói “Lý do chúng tôi thành công vì chúng tôi không phải người Anh hay Mỹ, và âm nhạc chúng tôi không giống bất cứ nhạc của nghệ sỹ nào trên bảng xếp hạng lúc đó”. Quả thực là nhạc pop cổ điển như Roxette không thể chết đi. Nhà phê bình Jon Pareles đã viết trên tờ New York Times năm 1992 “Marie Fredrikson là tài sản sáng giá của nhóm, ca sỹ có chất giọng như say xỉn, mái tóc bạch kim và gu thời trang bó sát”. Sự khác biệt văn hóa có thể truyền tải một hình ảnh lạ lẫm với khán giả Mỹ. Trong vòng hai năm, 3 đĩa đơn của họ leo lên hạng nhất bảng xếp hạng gồm có Listen to your heart, Joyride, It must have been love. Đặc biệt bản hit It must have been love được chọn nhạc phim bộ phim ăn khách thập niên 1990, Pretty Woman do minh tinh Julia Roberts thủ vai. Bài hát còn có tên khác là Christmas for the Broken Hearted (Giáng sinh cho kẻ thất tình). Bài hát được sáng tác năm 1987 để phát trên radio của Đức dịp Giáng Sinh, nhưng lại bị từ chối vào phút chót. Tuy nhiên, ca khúc lại gặt hái thành công lớn tại Thụy Điển và lan sang cả bên bờ Đại Tây Dương. Tư duy pop bảo thủ Roxette luôn được so sánh với ABBA hay Ace of Base vì giữa họ đều là các ban nhạc Thụy Điển hát tiếng Anh và gặt hái thành công quốc tế vang dội. Đồng thời, Roxette trung thành với tư duy pop bảo thủ, không lấn sân sang rock, metal. Đối với họ, giai điệu đẹp là yếu tố kiên quyết. Per Gessle từng thổ lộ : “Tôi là người trung thành với chuẩn mực nhạc pop thập niên 1960, 70, giai điệu là Vua. Đó là vừa là điểm mạnh vừa là nhược điểm của tôi. Nếu giai điệu không ra gì, rất khó cho tôi phát huy sáng tạo”. Hầu hết những ca khúc Roxette đều tuân thủ theo công thức ba hồi. Phần mở bài là nhạc dạo chơi keyboard, piano tạo điểm nhấn dễ chịu. Điệp khúc tạo ấn tượng nhờ giai điệu cực kỳ mạch lạc, rõ nét. Thêm vào đó, chất giọng khỏe, mạnh mẽ của Fredriksson tỏa sáng trên giai điệu đó. Phần kết bài được phối khí trong phần nhạc da diết, kéo dài. Những bản hit thành công như Fading like a flower, Spending my time, Wish I could fly đều chế biến theo motip này. Tuy nhóm có những ca khúc sôi động, phá cách như Dress for Success, The look, Dangerousnhưng giai điệu vẫn là con át chủ lực. Một tờ báo nhận xét : “Họ sáng tác những ca khúc nhạp pop muốn làm nổ tung lá phổi, ca từ đầy chất thơ mê muội như những giọt mưa”. Điển hình là bản hit Fading like a flower (Tàn úa như bông hoa), giọng ca cháy bỏng của Fredriksson ca ngợi sự chiến thắng của trái tim tan vỡ. Bài hát được dựng trên nền nhạc vững chắc, thiết kế bài bản theo cấu trúc ba hồi. Fredriksson cũng chia sẻ “Nếu tôi hát tiếng Thụy Điển, có lẽ sẽ còn tổn thương hơn thế rất nhiều”. Sự kết hợp của bộ đôi tài năng Fredriksson và Gessle đo ni đóng giày cho thành công của Roxette. Một người chuyên thiết kế những bản nhạc đẹp, người còn lại khuếch trương vẻ đẹp bằng giọng hát gai góc. Fredriksson thổ lộ bà chịu ảnh hưởng lớn của ngôi sao nhạc jazz kinh điển như Ella Fitzgerald, Billie Holiday và những rocker kỳ cựu như Mick Jagger, Tina Turner. Tiếng chim hót như bị gai đâm Năm 2002, Fredriksson được chẩn đoán u ác tính ở não sau khi bị ngã trên sàn nhà tắm. Căn bệnh về não khiến cho bà khó thuộc bài hát mới, mặc dù vẫn nhớ lời bài hát cũ. Năm 2012, bà vẫn đi lưu diễn tái hợp với Gessle và đồng thời cho ra mắt ba album solo trong thời gian điều trị. Âm nhạc dường như là liều thuốc tinh thần hữu hiệu nhất với Fredriksson trong suốt thời gian dài chống chọi với căn bệnh ung thư. Tiếng hát của bà như loài chim bị gai đâm nhưng vẫn cất tiếng hót bừng sáng không gian. Giờ đây, giọng ca Look sharp đã yên nghỉ ở tuổi 61, Fredricksson để lại nhiều nuối tiếc cho hàng triệu trái tim người hâm mộ, gia đình và người bạn tri kỷ âm nhạc. Gessle đã viết : “Cám ơn người bạn đã tô màu rực rỡ nhất cho những ca khúc đen-trắng của tôi. Cô ấy là nghệ sỹ xuất sắc nhất, một giọng ca xuất chúng, một ca sỹ biểu diễn cừ khôi”. (Theo NY Times, Billboard, The Guardian, Rhino Insider)

302 tập