Tập nhạc Higher : Michael Bublé vươn lên những đỉnh cao hơn

9:05
 
Chia sẻ
 

Manage episode 324409725 series 130292
Thông tin tác giả France Médias Monde and RFI Tiếng Việt được phát hiện bởi Player FM và cộng đồng của chúng tôi - bản quyền thuộc sở hữu của nhà sản xuất (publisher), không thuộc về Player FM, và audio được phát trực tiếp từ máy chủ của họ. Bạn chỉ cần nhấn nút Theo dõi (Subscribe) để nhận thông tin cập nhật từ Player FM, hoặc dán URL feed vào các ứng dụng podcast khác.
''Higher'' (Cao hơn) là tựa đề album phòng thu thứ 11 của Michael Bublé vừa được phát hành cuối tuần qua. Với tổng cộng 13 bài hát, đĩa nhạc này bao gồm 4 sáng tác mới với 9 bản cover. Xen kẻ lối hát tình ca quyến rũ mượt mà với những nhịp điệu dồn dập mà vẫn thướt tha, Michael Bublé luôn tìm ra cách làm mới ca khúc mặc dù không chạy theo các xu hướng hiện thời. Qua việc triệu tập hai nhà sản xuất đồng hương Greg Wells hay Bob Rock và các tác giả như Michael Pollack hay Ryan Tedder, danh ca người Canada Michael Bublé không chỉ hợp tác với các nhạc sĩ chuyên tạo ra các bản ghi âm ăn khách đương thời (hitmaker) mà còn mở rộng sân chơi, đi tìm những âm thanh ''mới'', trong lối khuynh đảo hợp âm (tình khúc kinh điển ''Bring it on home to me'' của Sam Cooke) hoặc trong cách thử nghiệm kết hợp những ý tưởng mà ít ai nghĩ tới, chẳng hạn như trong ca khúc chủ đề của album. Về điểm này, nhịp đập phá cách tân kỳ mang đầy kịch tính của bài ''Higher'' thổi một luồng sinh khí mới vào điệu vũ cuồng nhiệt, sôi bỏng tình yêu lứa đôi. Đi tìm cách làm mới ca khúc mà vẫn không chạy thời Thành danh trong hai thập niên qua nhờ làm sống lại những tình khúc hoài niệm cổ xưa với lối diễn đạt sống động trẻ trung, Michael Bublé tuy ban đầu được xem là một hiện tượng thịnh hành nhất thời (tiếp nối Harry Connick Jr phái nam và Diana Krall phái nữ) nhưng sau đó anh lại trụ vững và tiếp tục thành công vượt trội. Bên cạnh một vài sáng tác mới, sở trường từ trước tới nay của danh ca người Canada vẫn là lối tiếp cận âm nhạc của anh. Bản nhạc My Valentine do nhạc sĩ Paul McCartney sáng tác và ghi âm cách đây 10 năm, được Michael Bublé diễn đạt lại với phong cách đậm đặc chất jazz của Frank Sinatra (thời của tình khúc ''It was a very good year''). Michael Bublé ghi âm lại bản ''Crazy'' thành một vản song ca, hát cùng với Willie Nelson nhưng vẫn để nguyên đất diễn cho bậc thầy mà anh hằng kính trọng. Anh cũng ghi âm bài ''Make you feel my love'', phiên bản của Michael khác với phiên bản của Adele, nhưng cả hai đều thành công trong việc khoác áo mới cho nguyên tác của Bob Dylan, từng ăn khách một thời. Khi hợp tác với nhà sản xuất người Canada Greg Wells, từng đoạt giải Grammy 4 lần, Michael Bublé không dựa vào sự thành công của ông với các giọng ca số 1 hiện nay như Ariana Grande, Taylor Swift, Dua Lipa, John Legend hay Pharrell Williams mà chủ yếu tìm lại những kinh nghiệm của ông với các dàn nhạc big band do nhạc sĩ dương cầm Count Basie thành lập hoặc do nhạc trưởng Quincy Jones điều khiển. Còn khi làm việc với Bob Rock (tên thật là Robert Jens Rock), nhà sản xuất này từng hợp tác với nhiều nghệ sĩ cũng như ban nhạc rock nổi tiếng như Bryan Adams, Bon Jovi, Metallica, Mötley Crüe, Aerosmith, The Offspring ….. Michael Bublé có thêm cơ hội trao dồi những cách kết hợp mới, hòa quyện nhạc jazz với thêm nhiều thể loại kể cả pop rock, folk, soul, metal và thậm chí disco. Cùng với nhóm sản xuất, anh thử nghiệm khá thành công về mặt hình thức trong việc dung hòa các loại nhạc với nhau. Điểm trừ của album này có lẽ là trong cách đặt lời cho bốn sáng tác mới, ca từ chưa hẳn đã đạt khi đem ra so sánh với các sang tác của Bob Dylan hay Sam Cooke. Chẳng hạn như lời bài hát ''I'll never not love you'' hơi thiếu tự nhiên, dùng hai lần cách phủ định (qua biện pháp tu từ) chỉ để nói một ý rất đơn giản : ''ta mãi yêu em''. Giọng ca mượt trầm, phong cách chững chạc Nổi danh nhờ phong cach lịch lãm chững chạc, một chất giọng mượt mà trầm ấm bẩm sinh, Michael Bublé trong những nốt nhạc trầm thường hát với giọng baryton (baritone) những vẫn có thể đạt những nốt cao của một giọng ca ténor (tenor). Cách dùng vibrato của Michael Bublé cũng khá là đặc biệt, cột hơi vững chắc làn hơi đầy đặn giúp cho anh (khi cần) có thể rung giọng khá dài trên nhiều nốt, nhưng nốt cuối vẫn thường hay khép lại. Cách hát ấy tạo cho anh một dấu ấn riêng không thể nhầm lẫn với ai. Thế mạnh nhất của Michael Bublé vẫn là sự linh hoạt trong cách hát, hát nhanh mà vẫn rõ từng chữ, cách vuốt câu trau chuốt mà vẫn tự nhiên, nhờ luyện giọng nhuần nhuyễn. Michael Bublé tận dụng cách hát này không chỉ đơn thuần trong điệu swing, mà còn bước sang nhiều thể loại khác (như trường hợp bản nhạc disco ''You are the Frst, the Last, My Everthing'' của thần tượng Barry White). Hơn ba năm sau tập nhạc ''Love'' (phát hành vào mùa thu 11/2018) album ''Higher'' nhìn chung có nhiều tham vọng hơn. Trong quá trình thực hiện tập nhạc thứ 11 này, nam danh ca Canada vẫn luôn giữ trong tâm trí những cảm xúc mà anh từng nghe trên tập nhạc ''Tapestry'' của Carole King (1971) cũng như ''Songs in the Key of Life'' của Stevie Wonder (1976). Tựa như một người thích leo trèo, Michael Bublé luôn tìm riêng cho mình một cơ hội để vươn lên, một ngõ lối để đi tới, chứ không chỉ ngước nhìn từ xa những đỉnh núi cao vời vợi.

365 tập